![]() |
Áp
dụng chuẩn mực Lập Báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế (International
Financial Reporting Standards - IFRS) là điều kiện để đảm bảo các doanh
nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng thống nhất các nguyên tắc kế toán trong công tác lập BCTC.
TS. Trần Mạnh Dũng (CPA) – Đại học KTQD
Ths. Đào Mạnh Huy - Đại học Lao động Xã hội
Th.s. Nguyễn Thị Thanh Diệp – Đại học KTQD
IFRS
được biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập BCTC.
Phương thức lập BCTC được mô tả là tập trung vào mối quan hệ giữa doanh
nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tin liên quan đến thị
trường vốn. Cơ quan nhà nước có thể sử dụng BCTC như công cụ điều hành
các hoạt động kinh tế. Tuy nhiện, BCTC được lập chủ yếu phục vụ cho mục
đích của nhà đầu tư chứ không phải cho Chính phủ.
Năm
2005 đánh dấu việc ban hành đầy đủ IFRS cho thị trường vốn trên thế
giới. Căn cứ vào IFRS, các quốc gia trên thế giới đã ban hành Chuẩn mực
lập BCTC phù hợp với từng quốc gia và nhiều quốc gia đã chính thức áp
dụng từ 1/1/2005 như Úc, Hồng Kông, các nước Châu Âu …
Chủ
đề về áp dụng IFRS tại các nước trên thế giới có tầm quan trọng đặc
biệt khi mà các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán lập
BCTC hợp nhất theo IFRS từ năm 2005, năm đầu tiên áp dụng IFRS. Việc áp
dụng IFRS của các nước trên thế giới được coi như một cuộc cách mạng
trong công tác kế toán và lập BCTC. Tuy nhiên trong năm đầu tiên áp dụng
IFRS, nhiều tồn tại, vướng mắc đã bộc lộ trong quá trình áp dụng Hệ
thống chuẩn mực này.
Từ
thực tiễn trên, nhiều nghiên cứu khác nhau về tính khả thi trong việc
áp dụng IFRS trong năm đầu tiên áp dụng. Một số kinh nghiệm được đưa ra
liên quan đến việc áp dụng IFRS của các công ty cổ phần niêm yết trên
thị trường chứng khoán tại Châu Âu, Úc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông,
New Zealand bao gồm:
1. Tính phức tạp của chuẩn mực
Các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đánh giá quá thấp tính
phức tạp, sự ảnh hưởng và chi phí khi áp dụng IFRS. Mặc dù, hầu hết các
công ty đã bắt đầu quá trình chuyển đổi trước đó, nhưng trên thực tế khi
lập BCTC theo IFRS đã mất nhiều thời gian hơn dự định ban đầu. Có tình
trạng đó là khi áp dụng IFRS hàng loạt vấn đề đặt ra và cần phải có sự
xét đoán mang tính chủ quan để quyết định đến trị số của các chỉ tiêu
trên BCTC.
Trên
thực tế, có nhiều vấn đề được coi là rất khó khăn trong việc áp dụng
như chuẩn mực kế toán về các công cụ tài chính bao gồm cả các nghiệp vụ
phái sinh và kế toán phòng ngừa rủi ro; kế toán theo phương pháp mua,
bao gồm cả sự nhận dạng và đo lường tài sản vô hình tách biệt, kiểm tra
giảm giá trị của tài sản … Khi kiểm toán viên nhận được BCTC dự thảo mà
doanh nghiệp cho là tuân thủ IFRS thì có tới hàng trăm sai sót với mức
độ khác nhau cần phải được sửa chữa trước khi phát hành BCTC chính thức
để phục vụ cho hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán.
2. Sự trợ giúp của kiểm toán viên
Để
có được BCTC tuân thủ theo IFRS thì cần nhiều đến sự trợ giúp của các
kiểm toán viên. Sở dĩ yêu cầu này được đặt ra là do các điều khoản trong
IFRS rất phức tạp, trong khi đó các doanh nghiệp, nhất là các doanh
nghiệp có quy mô nhỏ, thiếu sự tinh thông đối với IFRS. Vì lý do này, sự
trợ giúp của kiểm toán viên là rất quan trọng. Việc trợ giúp này liên
quan đến các hợp đồng tư vấn về công tác kế toán và lập BCTC cho các
doanh nghiệp. Tương tự như vậy là sự tư vấn và các bút toán điều chỉnh
được kiểm toán viên đưa ra trong quá trình kiểm toán. Qua đó, nếu BCTC
được điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên sẽ phản ánh trung thực và
hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền và tất nhiên
BCTC tuân thủ theo IFRS.
3. Tính có thể so sánh
Việc
áp dụng IFRS dẫn đến tăng khả năng so sánh của các chỉ tiêu trên BCTC
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, thực tế
rất đa dạng và vẫn còn tồn tại trên BCTC hợp nhất năm 2005, do có quá
nhiều giả thiết mang tính chủ quan tồn tại trong các chuẩn mực của IFRS.
Vì vậy BCTC được lập với nhiều giả định khác nhau tùy theo từng công
ty, việc đánh giá xem tính hợp lý của các giả định cũng như tính tuân
thủ theo IFRS là công việc không hoàn toàn đơn giản.
Tính
có thể so sánh của các thông tin trên BCTC gặp trở ngại lớn do thiếu sự
thống nhất về một số nội dung trong biểu mẫu BCTC. Ví dụ, một số công
ty phân loại tài sản theo ngắn hạn và dài hạn trong khi một số khác lại
không phân loại như vậy; Một số công ty sắp xếp tiền và các khoản tương
đương tiền ở đầu bảng cân đối kế toán trong khi một số công ty khác lại
sắp xếp tiền và các khoản tương đương tiền ở cuối bảng cân đối kế toán.
Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng vậy, sự sắp xếp trình
bày không giống nhau sẽ làm khó khăn hơn trong việc so sánh các thông
tin.
4. Phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng
Sự
khác biệt quan trọng giữa các công ty mà không thể nhận thấy được từ
BCTC sẽ nảy sinh như là kết quả của phương pháp giá trị hợp lý và giá
trị sử dụng. Một trong những sự chuyển biến sâu sắc nhất trong kế toán
khi áp dụng IFRS là sự chuyển hướng nhiều hơn đến kế toán giá trị hợp lý
bao gồm phương pháp giảm giá trị của tài sản, lợi thế thương mại và tài
sản cố định vô hình. Điều này liên quan đến ước tính chủ quan luồng
tiền trong tương lai. Nhiều ước tính được thực hiện dựa trên các giả
định không rõ ràng, đôi khi không hợp lý sẽ dẫn đến nhiều kết quả khác
nhau và thậm chí có sự chênh lệch lớn giữa các kết quả đó.
5. Tính rõ ràng và ổn định
IFRS
được cho là quá phức tạp, thậm chí phức tạp đối với cả kiểm toán viên
và các chuyên gia về tài chính kế toán. Đối với hầu hết những người sử
dụng BCTC, không đơn giản và dễ dàng để hiểu được thấu đáo các thông tin
kế toán và chính sách kế toán trên BCTC.
IFRS
cũng được cho là không rõ ràng và không ổn định. Điều này làm giảm sự
tin tưởng của các nhà đầu tư vào thị trường vốn. Sự minh họa rõ nét nhất
là trong giải thích của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế về IAS 27
“BCTC hợp nhất và riêng biệt” rằng yêu cầu hợp nhất khi có sự kiểm soát
tồn tại. Tuy nhiên, không một công ty kiểm toán nào trong 4 công ty kiểm
toán lớn (Big 4) đạt được kết luận đó. Dường như các tuyên bố đáng ngạc
nhiên cũng tăng thêm tính không ổn định của IFRS. Hay như chuẩn mực các
công cụ tài chính chưa thực sự rõ ràng và đôi khi còn khó hiểu vì sự đa
dạng của công cụ tài chính tồn tại và đặc tính thay đổi của thị trường
tài chính.
6. Giảm giá trị của lợi thế thương mại
Chuẩn
mực yêu cầu ước tính giá trị có thể thu hồi của các đơn vị tạo tiền mà
lợi thế thương mại phân bổ cho các đơn vị tạo tiền đó. Cũng theo quy
định của Chuẩn mực, giá trị có thể thu hồi thường được xác định theo
phương pháp giá trị sử dụng và nó được tính toán như là giá trị hiện tại
của luồng tiền trong tương lai. Điều này hoàn toàn mang tính chủ quan,
cho nên với các giả định khác nhau thì sẽ có nhiều kết quả khác nhau.
Hoàn toàn không đơn giản để xác định kết quả nào tốt nhất vì thực chất
không có thị trường cho lợi thế thương mại. Đối với các kiểm toán viên
cũng vậy, không đơn giản để xác định sự liên quan giữa tính hợp lý của
các giả định đến mô hình chiết khấu luồng tiền như tỷ lệ chiết khấu, tỷ
lệ tăng trưởng, giá trị luồng tiền trong tương lai, thời kỳ dự đoán và
giá trị còn lại. Chính vì vậy đánh giá tính hợp lý của các giả định là
việc làm rất phức tạp.
7. Trình bày các thông tin trên Báo cáo tài chính
Việc
trình bày các thông tin theo IFRS dựa trên nguyên tắc trọng yếu. Vấn đề
khó khăn đối với việc trình bày là áp dụng khái niệm trọng yếu. Về lý
thuyết, trọng yếu là khái niệm chỉ quy mô (mặt lượng) và tính hệ trọng
(mặt chất) của các thông tin. Tuy nhiên, các trình bày không mang tính
trọng yếu tràn ngập thông tin tài chính trên BCTC làm giảm chất lượng
của BCTC. Nhưng khi xét mức trọng yếu đối với việc trình bày thì chủ yếu
xét theo định tính chứ không mang tính định lượng. Do vậy càng rất khó
xác định nếu không có hướng đi cụ thể. Trọng yếu của việc trình bày
trong BCTC là những sai phạm trong trình bày có ảnh hưởng đến các quyết
định kinh tế của những người sử dụng BCTC. Tuy nhiên trên thực tế người
lập BCTC lại biết quá ít về quá trình đưa ra quyết định kinh tế của
những người sử dụng BCTC.
Tóm
lại, thực hiện theo IFRS thực sự là một thách thức. Tất cả các bên liên
quan, doanh nghiệp, kiểm toán viên và các nhà ban hành chính sách phải
xác định đây là vấn đề thực sự quan trọng. Việc thực hiện theo IFRS được
coi như một cuộc cách mạng trong công tác kế toán và lập BCTC. Trong
thời kỳ đầu áp dụng IFRS, quả là rất khó khăn cho những người lập BCTC
vì tính đa dạng, phức tạp và không hoàn toàn rõ ràng của IFRS. Tuy
nhiên, nếu tuân thủ theo IFRS, khối lượng khổng lồ về thông tin tài
chính kế toán sẽ được phản ánh trên BCTC, mọi khía cạnh trọng yếu về
tính hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền, chính sách kế toán
và các giả định áp dụng sẽ được phản ánh đầy đủ. Người được lợi nhất
chính là những người sử dụng BCTC khi đơn vị áp dụng theo IFRS; qua đó
họ có đầy đủ các thông tin cần thiết để xem xét trong việc đưa ra quyết
định kinh tế của mình.
(Theo http://kiemtoan.com.vn)






















0 nhận xét:
Đăng nhận xét
Mời bạn gửi Nhận xét của mình. Nếu không có tài khoản, bạn vẫn có thể nhận xét bằng cách Chọn hồ sơ là Tên/URL hay Ẩn danh. Tuy nhiên bạn nên chọn Tên/URL với URL có thể để trống. Bạn vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.
♦ Các bạn tự chịu trách nhiệm với Nhận xét của mình. Nhận xét để phản hồi, đánh giá, góp ý.... suy nghĩ của bạn. Thông qua Nhận xét hãy để cho mọi người biết Bạn là ai.