Đánh
giá rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan trọng, giúp các công ty
kiểm toán xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm toán một cách hợp lý và
hiệu quả. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc đánh giá rủi ro ở các
công ty kiểm toán vẫn chưa hoàn thiện, do đây là một công việc khó và
đòi hỏi trình độ phán xét của kiểm toán viên (KTV) cần đạt ở mức độ khá
cao.
Ts Phạm Tiến Hưng
ThS Nguyễn Thị Phương Thảo
|
D
|
o
nhu cầu về thông tin tài chính trung thực, khách quan ngày càng tăng
của các nhà đầu tư và bên liên quan đòi hỏi công ty kiểm toán, đặc biệt
là các công ty kiểm toán được chấp thuận kiểm toán báo cáo tài chính
(BCTC) của các tổ chức phát hành chứng khoán, các công ty cổ phần niêm
yết kinh doanh trên thị trường chứng khoán,… phải chú trọng nhiều hơn
đến chất lượng dịch vụ kiểm toán.
Hiện
nay chất lượng dịch vụ kiểm toán chưa đồng đều, còn có sự chênh lệch
khá lớn giữa các công ty. Nhiều công ty kiểm toán có số lượng KTV lớn,
KTV nhiều kinh nghiệm đã tạo lập được vị thế và danh tiếng trên thị
trường, được nhiều khách hàng lớn lựa chọn. Tuy nhiên cũng còn một số
công ty nhỏ, mới thành lập chưa đảm bảo chất lượng dịch vụ, do chưa đủ
người làm kiểm toán vì bị hạn chế về số lượng KTV hoặc KTV còn làm kiêm
nhiệm. Cũng có trường hợp công ty kiểm toán có nhiều khách hàng, trong
khi thời hạn phải có báo cáo kiểm toán để phục vụ đại hội cổ đông dồn
vào các tháng đầu năm nên ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán.
Ngoài
ra, năng lực, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của KTV là những yếu tố
mang tính quyết định chất lượng kiểm toán. Thực tế đã có một số trường
hợp do trình độ KTV còn bất cập, chưa hiểu sâu về lĩnh vực ngành nghề
của khách hàng dẫn đến những sai phạm trong nghề nghiệp, bỏ sót không
kiểm toán một số thông tin trên BCTC hoặc không ghi ý kiến về các sai
phạm cho đơn vị được kiểm toán sửa chữa, đồng thời sau khi phát hành báo
cáo kiểm toán, các sai phạm không được thông báo cho Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước
Ngoài
các sai phạm kể trên, thực tế thời gian qua cũng đã ghi nhận nhiều tồn
tại trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán dưới ba hình thức cơ bản:
Thứ nhất, không
thực hiện đánh giá đầy đủ rủi ro kinh doanh trong qui trình đánh giá
rủi ro kiểm toán, thậm chí không cảnh báo được các rủi ro về khả năng
hoạt động liên tục của khách hàng dẫn đến doanh nghiệp (DN) bị phá sản
hoặc mất khả năng thanh toán ngay sau kiểm toán (như trường hợp của Công
ty cổ phần Bông Bạch Tuyết và Tập đoàn kinh tế Vinashin).
Tại
Tập đoàn kinh tế Vinashin, trong năm 2007-2008, DN đối mặt với cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới, nhiều đơn hàng bị từ chối, hủy hợp đồng,
đầu tư cho các dự án quá lớn và dàn trải, trong khi nguồn vốn chủ yếu
là đi vay (vốn chủ sở hữu chỉ khoảng 10% tổng nguồn vốn), khả năng trả
nợ ngắn hạn gần như không có. Tuy nhiên, qua kiểm toán vẫn khẳng định
các khoản vay của Vinashin có lợi thế và đánh giá cao khả năng phát
triển của Vinashin. Từ đó tạo điều kiện cho Vinashin tiếp tục phát hành
trái phiếu nước ngoài và vay nợ, dẫn đến hậu quả năm 2010 DN mất khả
năng thanh toán và Chính phủ phải sử dụng nhiều biện pháp để tái cơ cấu
nguồn vốn.
Thứ hai, sử dụng các “biện pháp kỹ thuật” trong kiểm toán để phòng ngừa rủi ro cho công ty kiểm toán hơn là bảo vệ lợi ích khách hàng.
Xu
hướng gần đây cho thấy, các báo cáo kiểm toán thường đưa ra ý kiến loại
trừ hoặc các lưu ý khi sử dụng thông tin. Dạng thứ nhất là loại trừ do
bị giới hạn phạm vi kiểm toán. Loại ý kiến này có thể không đưa ra được
định lượng về ảnh hưởng của vấn đề bị giới hạn đối với tình hình kinh
doanh và tài chính của DN. Dạng thứ hai là, loại trừ hoặc lưu ý do những
khác biệt giữa BCTC của công ty với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế
toán. Đối với dạng này, về nguyên tắc KTV cần đưa ra đánh giá định lượng
đối với kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của DN. Trên cơ sở
đó, người sử dụng BCTC có thể dự đoán được hiệu quả sản xuất kinh doanh,
nếu DN thực hiện kế hoạch hạch toán theo đề nghị của KTV.
Trên
thực tế, nhiều công ty kiểm toán đã lạm dụng việc sử dụng dạng ý kiến
loại trừ thứ hai hoặc lưu ý trong trường hợp có những xung đột không
thống nhất được với khách hàng. Về thực chất, đây chỉ là hình thức các
công ty kiểm toán phòng ngừa rủi ro cho mình, đồng thời đẩy rủi ro cho
người sử dụng thông tin trên BCTC. Đa phần những người sử dụng báo cáo
kiểm toán không có kiến thức chuyên sâu về kế toán, kiểm toán, vì vậy
việc ước lượng những tác động và ảnh hưởng của khoản mục được loại trừ
hoặc lưu ý đến BCTC là không đơn giản. Hậu quả là, có nhiều báo cáo kiểm
toán gặp phải sự phản ứng mạnh từ phía người sử dụng thông tin khi các
rủi ro phát sinh.
Cụ
thể như, trường hợp Báo cáo kiểm toán BCTC năm 2009 của Tổng công ty cổ
phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (Vinaconex) có hai điểm loại
trừ và 4 điểm lưu ý, trong đó những điểm lưu ý về “chính sách ghi nhận
doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản của tổng công ty”,
“chênh lệch tỷ giá liên quan đến việc xây dựng Nhà máy xi măng Cẩm Phả
và Nhà máy nước sạch Vinaconex”, đây là điểm có thể tác động trọng yếu
đến toàn bộ Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 của DN. Hậu quả là, tổng
công ty đã phải điều chỉnh BCTC sau kiểm toán từ lãi 269 tỷ đồng xuống 6
tỷ đồng, gây ảnh hưởng lớn đến quyết định của nhà đầu tư.
Thứ ba, KTV
không kiểm soát được rủi ro kiểm toán trong trường hợp ban giám đốc,
quản lý công ty khách hàng thiếu tính trung thực hoặc cố tình gian lận.
Nếu ban lãnh đạo đơn vị cố tình làm sai, giả mạo số liệu và sổ sách mà
công ty kiểm toán đưa ra những nhận định kiểm toán không đánh giá được
đúng tình hình, thì về mặt pháp lý công ty kiểm toán không chịu một chế
tài nào. Bởi vì, theo quy định của pháp luật kiểm toán, thì đơn vị được
kiểm toán có trách nhiệm “cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực mọi
thông tin, tài liệu cần thiết cho việc kiểm toán”- khoản 1 Điều 6, Nghị
định 105/2004/NĐ-CP về kiểm toán độc lập. Do vậy, có thể công ty kiểm
toán chỉ soát xét việc thực hiện các chế độ kế toán có đúng quy trình
hay không. Do đó, cũng có trường hợp họ không tập trung phân định được
những số liệu giả mạo. Điều này ảnh hưởng không tốt đến uy tín của công
ty kiểm toán.
Cụ thể như trường hợp BCTC năm 2008 và 2009 của Công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông do Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) kiểm toán và tư vấn (A&C) và Công ty TNHH Enrst&Young kiểm toán. Nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông (DVD) cùng một số người khác đã lập nhiều tài khoản, thông đồng thực hiện việc mua, bán cổ phiếu của công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây (DHT) tạo ra cung cầu giả tạo, thao túng giá cổ phiếu DHT. Ngoài ra, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông cùng một số đối tượng đã lập ra nhiều công ty do người trong gia đình và bạn bè đứng tên làm lãnh đạo, nhưng thực chất chỉ để kinh doanh lòng vòng, tạo doanh thu ảo cho DVD; cung cấp một số thông tin không đúng thực tế (làm giá), nhằm chào bán cổ phiếu của DVD ra công chúng và hỗ trợ đăng ký niêm yết cổ phiếu DVD. Do đó, BCTC của công ty đã không phản ánh đúng tình trạng tài chính của DN. Tuy hai công ty kiểm toán không phải chịu trách nhiệm liên đới, nhưng uy tín đã bị ảnh hưởng đáng kể.
Cụ thể như trường hợp BCTC năm 2008 và 2009 của Công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông do Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) kiểm toán và tư vấn (A&C) và Công ty TNHH Enrst&Young kiểm toán. Nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông (DVD) cùng một số người khác đã lập nhiều tài khoản, thông đồng thực hiện việc mua, bán cổ phiếu của công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây (DHT) tạo ra cung cầu giả tạo, thao túng giá cổ phiếu DHT. Ngoài ra, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông cùng một số đối tượng đã lập ra nhiều công ty do người trong gia đình và bạn bè đứng tên làm lãnh đạo, nhưng thực chất chỉ để kinh doanh lòng vòng, tạo doanh thu ảo cho DVD; cung cấp một số thông tin không đúng thực tế (làm giá), nhằm chào bán cổ phiếu của DVD ra công chúng và hỗ trợ đăng ký niêm yết cổ phiếu DVD. Do đó, BCTC của công ty đã không phản ánh đúng tình trạng tài chính của DN. Tuy hai công ty kiểm toán không phải chịu trách nhiệm liên đới, nhưng uy tín đã bị ảnh hưởng đáng kể.
Hiện
nay, một số công ty kiểm toán lớn là thành viên của các tập đoàn kiểm
toán trên thế giới đã đổi mới cách tiếp cận kiểm toán theo rủi ro kinh
doanh của khách hàng khi đánh giá về rủi ro kiểm toán, thay vì cách đánh
giá truyền thống dựa trên các đánh giá và kết luận về các khoản mục
trên BCTC. Đây là cách tiếp cận hiệu quả, vì rủi ro kinh doanh là một
nhân tố quan trọng tác động đến việc đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát, qua đó tác động đến bản chất, thời gian và phạm vi của công
việc kiểm toán thông qua các mức độ yêu cầu khác nhau.
Ngoài
ra, quy trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán BCTC tại một số công ty
kiểm toán là thành viên hãng kiểm toán lớn như Công ty TNHH
Pricewaterhouse Coopers, Công ty TNHH KPMG Việt Nam, Công ty TNHH
Ernst&Young Việt Nam, Công ty TNHH Grant Thornton Việt Nam, Công ty
TNHH Deloitte Việt Nam, còn được hỗ trợ bởi phần mềm kiểm toán và các
chương trình kiểm toán riêng. Đây là công cụ hỗ trợ rất hữu ích, giảm
thiểu thời gian kiểm toán và nâng cao chất lượng kiểm toán của các công
ty kiểm toán.
(Theo tạp chí Thuế Nhà nước)





















0 nhận xét:
Đăng nhận xét
Mời bạn gửi Nhận xét của mình. Nếu không có tài khoản, bạn vẫn có thể nhận xét bằng cách Chọn hồ sơ là Tên/URL hay Ẩn danh. Tuy nhiên bạn nên chọn Tên/URL với URL có thể để trống. Bạn vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.
♦ Các bạn tự chịu trách nhiệm với Nhận xét của mình. Nhận xét để phản hồi, đánh giá, góp ý.... suy nghĩ của bạn. Thông qua Nhận xét hãy để cho mọi người biết Bạn là ai.