Sự khác biệt giữa Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC

Sự khác nhau cơ bản giữa Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC được thể hiện trong những nội dung chủ yếu dưới đây: .

Hướng dẫn lập bảng cân đối kế toán

Những thông tin chung về doanh nghiệp Trong báo cáo tài chính năm, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin chung sau:.

THÔNG TƯ 18/2011/TT-BTC SỬA ĐỔI TT 130 VỀ THUẾ TNDN

Ngày 10/02/2011 Bộ tài chính vừa ban hành thông tư 18/2011/TT-BTC sửa đổi, bổ sung thông tư 130/2008/TT-BTC về thuế TNDN, theo đó có một số điểm quan trọng sau đây.

Thông tư 228 mới hướng dẫn chế độ trích lập dự phòng

Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp tại doanh nghiệp.

Mẫu bảng tính lương bằng Excel

Xin giới thiệu sơ lược các sheet của file mẫu lương này. Tôi chia ra làm 2 bảng lương, bảng lương trong hợp đồng lao động dài hạn (sheet ky 1 - sheet ky 2) và bảng lương hợp đồng lao động thời vụ/thuê ngoài (sheet TN-K1 - sheet TN-K2).

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng

29/7/13

Phát hiện giao dịch liên ngân hàng lãi suất "khủng" lên tới 37,5%

Xem hình

Báo cáo kiểm toán việc điều hành cũng như thực hiện chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Nhà nước và 6 tổ chức tín dụng đã chỉ ra khá nhiều hạn chế, thiếu sót tại các đơn vị này.
Theo Kiểm toán Nhà nước, bên cạnh một số kết quả tích cực, công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2012 vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định.

Điển hình là nhu cầu vốn giá rẻ cho nền kinh tế chưa được đáp ứng đầy đủ do lãi suất cho vay còn cao; tăng trưởng tín dụng 14,45% không đạt chỉ tiêu theo nghị quyết của Chính phủ.

Đặc biệt, tỷ lệ nợ xấu liên tục tăng từ năm 2007 và đến năm 2011 tăng đột biến, từ 1,55% của năm 2007 lên 3,07% năm 2011. Hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động cho vay tái cấp vốn chưa kịp thời đầy đủ. Một số hồ sơ tái cấp vốn chưa được giám sát việc sử dụng vốn vay theo thông báo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước như hồ sơ vay vốn của Vietinbank, BIDV, VCB.

Cùng với đó là việc điều hành thị trường liên ngân hàng còn hạn chế, không kiểm soát được mức lãi suất cao bất thường, điển hình như trong năm 2011, tại một số thời điểm xuất hiện không ít giao dịch cho vay, gửi tiền liên ngân hàng lãi suất cao như: trong tháng 3/2011 có giao dịch với lãi suất 23%/năm, tháng 10/2011 có giao dịch với lãi suất 30%/năm, thậm chí trong tháng 11/2011 có giao dịch với lãi suất 37,5%/năm, trong khi lãi suất huy động trên thị trường I năm 2011 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tối đa chỉ 14%/năm.

Về hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh liên kết của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, Kiểm toán Nhà nước cho biết tại các đơn vị được kiểm toán đều có hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh, liên kết, song hiệu quả của các khoản đầu tư, góp vốn còn thấp, nhiều khoản đầu tư không thu được lợi nhuận hoặc suy giảm lợi nhuận giá trị kể từ thời điểm đầu tư, thậm chí là có nguy cơ mất vốn cao.

Đơn cử như tỷ lệ thu nhập từ đầu tư góp vốn, mua cổ phần trên tổng giá trị đầu tư năm 2011 của BIDV từ 3,1% đến 3,4%; của ngân hàng MHB là 0,07%; tại Tổng công ty PVI tỷ suất lợi nhuận đầu tư dài hạn so với số vốn đầu tư dài hạn bình quân là 5,01% và 70,7% giá trị các khoản đầu tư dài hạn có hiệu quả đầu tư thấp hoặc chưa có hiệu quả.

Tại BIDV, tổng giá trị chứng khoán vốn đầu tư sẵn sàng để bán năm 2011 đã suy giảm 62% giá trị; tại PVI 31,8% giá trị đầu tư ngắn hạn tiềm ẩn rủi ro cao và khoản đầu tư vào Quỹ tăng trưởng Việt nam đã giảm 51%, Quỹ tầm nhìn giảm 24% giá trị; tại Ngân hàng MHB 102 tỷ đồng góp vốn vào công ty chứng khoán MHB nhưng công ty này có số lỗ luỹ kế đến hết năm 2011 là 114 tỷ đồng; trong khi 54,8 tỷ đồng góp vốn vào một công ty bất động sản từ năm 2007 đến nay chưa thu được một đồng lãi nào và hơn 200 tỷ đồng đầu tư vào 3 doanh nghiệp khác từ 2008 đến thời điểm này đang có nguy cơ mất trắng.

Về hoạt động tín dụng, Kiểm toán Nhà nước cũng đã chỉ ra tình trạng nợ xấu tại các tổ chức tín dụng còn cao, tiêu biểu như BIDV là 2,96%, MHB là 2,49%; cùng với đó là nhiều khoản cho vay tiềm ẩn rủi ro và khả năng thu hồi vốn khó khăn, chẳng hạn như số dư tiền gửi đến 31/12/2011 của MHB tại các tổ chức tín dụng khác là 11.737,8 tỷ đồng, trong đó số quá hạn chưa thu được phải gia hạn là 1.157,16 tỷ đồng và hơn 4 triệu USD.

Trao đổi với báo giới ngày 25/7, Phó tổng Kiểm toán Nhà nước Lê Minh Khái cho biết, trong năm 2013, Kiểm toán Nhà nước sẽ tập trung kiểm toán 3 ngân hàng, gồm: Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) với mục tiêu là đi sâu vào nội dung nợ xấu của các đơn vị này, trong đó cố gắng cập nhật đến 30/6/2013.


Vneconomy

Deutsche Bank phù phép để các khoản vay "bốc hơi" khỏi sổ sách như thế nào?

Từ năm 2008, Deutsche Bank (DB) đã cho các ngân hàng khác vay hàng tỉ đô la và ghi nhận vào sổ sách kế toán theo cách sẽ giúp che giấu rủi ro trước nhà đầu tư. Hiện ngân hàng lớn nhất nước Đức này có thể cho các ngân hàng từ Ý tới Brazil vay nhưng giao dịch đó hoàn toàn biến mất trên bảng cân đối kế toán.
Deutsche Bank phù phép để các khoản vay "bốc hơi" khỏi sổ sách như thế nào?
Deutsche Bank phù phép để các khoản vay "bốc hơi" khỏi sổ sách như thế nào?
Ngân hàng Ý Banca Monte dei Paschi di Siena và ngân hàng Brasil Banco do Brasil đã vay 2,5 tỷ USD từ Deutsche Bank chính bằng cách này.
Các khoản nợ đều nằm trong số tài sản trị giá 395,5 tỉ Euro mà Deutsche Bank đưa ra khỏi bảng cân đốikế toán bằng cách bù trừ tài sản với công nợ. Con số này được Deutsche Bank tiết lộ vào đầu tháng4/2013, theo tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế. Nó tương đương 19% tổng tài sản trị giá 2,03 nghìn tỉ Euros của ngân hàng.
Cách Deutsche Bank ghi nhận khoản vay được gọi là hợp đồng mua lại “tăng cường” (enhanced “repo”)nhằm làm giảm tổng tín dụng trong báo cáo tài chính, khi hai CEO Anshu Jain và Juergen Fitschen tìm cách thuyết phục các nhà đầu tư rằng công ty có đủ vốn để phòng ngừa thua lỗ.
Ngân hàng hưởng lợi nhuận từ việc sắp xếp các giao dịch phụ đi kèm khoản cho vay, bao gồm cả việc bán hợp đồng bảo hiểm rủi ro tín dụng đối với trái phiếu chính phủ mà sau này điêu đứng vì cuộc khủng hoảng nợ châu Âu.
Deutsche Bank còn có hợp đồng repo dài hạn với ba chủ nợ khác: NationalBank of Greece, Hellenic Postbank SA tại Athens và Al Khaliji ở Qatar. Mọi giao dịch này đều dùng cách bù trù tài sản với công nợ.
Mỗi tỷ euros mà Deutsche Bank không đưa vào bảng cân đối đều thổi phồng tình trạng tài chính lẫn tỷ lệ vốn thực tế của mình để tránh phải huy động vốn từ các nhà đầu tư. Nó đã đem lại cái nhìn sai lệch cho các nhà đầu tư vì bảng cân đối trông ít rủi ro hơn so với thực tế.
Theo FDIC,Deutsche Bank xếp hạng chót trong số các ngân hàng toàn cầu trên ít nhất một thước đo rủi ro: tỉ lệ đòn bẩy. Nếu áp dụng theo đề xuất của Ủy ban Basel, họ sẽ phải đưa cả tài sản bên ngoài sổ sách vào khi tính toán đòn bẩy và phải bổ sung thêm số vốn tương đương 12,3 tỷ euro.
 
Deutsche Bank phù phép để các khoản vay
Ngân hàng lâu đời nhất thế giới Monte Paschi đang trên bờ vực thẳm. Deutsche Bank đã cho Monte Paschi vay hàng tỷ USD.
Deutsche Bank bỏ khoản vay ra ngoại bảng như thế nào?
DB dùng thủ thuật “no-balance-sheet usage” để đẩy các khoản nợ khỏi sổ sách.
Trong một giao dịch cho vay thế chấp thông thường, ngân hàng cho vay tiền mặt của mình và ghi nhận khoản vay như một tài sản trong bảng cân đối. Đổi lại, nó nhận tài sản thế chấp và nắm giữ đến khi các khoản vay được hoàn trả.
Còn với giao dịch “no-balance-sheet” của Deutsche Bankngân hàng này nhận tài sản thế chấp, bán và dùng tiền để cho vay. Ví dụ như khi bán trái phiếu chính phủ, DB tạo ra một nghĩa vụ hoàn trả chứng khoán, cho phép ngân hàng bù trừ giữa tài sản và công nợ.
Bù trừ được là nhờ Deutsche Bank viện dẫn Chuẩn mực số 32 IFRS, buộc một số công cụ tài chính nhất định phải bù trừ lẫn nhau nếu nghĩa vụ được thanh toán cùng lúc hoặc thanh toán bù trừ trong suốt thời gian hiệu lực của các công cụ đó.
Deutsche Bank thực tế đã “bán khống” số trái phiếu trên, một biên bản nội bộ của ngân hàng viết.
Các điều khoản của thỏa thuận cho vaycho phép Deutsche Bank bán tài sản thế chấp và không phải hoàn trả đúng loại trái phiếu đem thế chấp. Thay vào đó, Deutsche Bank có thể trả khách các trái phiếucó giá trị rẻ nhất tương đương.
Bằng cách đồng ý chấp nhận các tài sản với giá rẻ nhất trong trường hợp mặc định, Monte Paschi và Banco do Brasil thực tế đã coi số trái phiếu họ đưa cho Deutsche Bank là tài sản thế chấp.
Họ trả lãi trên số tiền vay và hương lãi trên số trái phiếu đem thế chấp. Đó vẫn là tái ản của Monte Paschi vì họ có nghĩa vụ phải nhận lại chúng.
Ngân hàng bán bảo hiểm cho các khoản chứng khoán liên quan tài sản thế chấp, đồng nghĩa với chuyểnrủi ro khoản vay vỡ nợ sang trading bookNếu trái phiếu chính phủ mất giá, khách hàng phải bổ sung tài sản ký quỹ.
Dù có điểm giống hợp đồng repo, nhưng các khoản vay của Deutsche Bank có thời hạn tới 5 năm hoặc hơn và không được ghi nhận như tài sản.
Còn Deutsche Bank có thể ghi lãi ngay từ đầu nhờ bán phí bán bảo hiểm vỡ nợ tín dụng cho các nhà đầu tư. Trong vụ cho vay Monte Paschi, Deutsche Bank ghi được ngay 60 triệu euro lợi nhuận như thế.
Thỏa thuận này được mô tả trong bản ghi nhớ nội bộ như một hợp đồng mua lại đã tái cấu trúc. Còn trong các công bố, Monte Paschi gọi công cụ này dưới mác “hợp đồng mua lại dài hạn” và "hợp đồng bảo hiểm sẽ có lãi toàn phần".
Mối lo ngại nghiêm trọng
Đến năm nay, dù đã dùng đến chiêu thức kể trên, Deutsche Bank vẫn phải huy động thêm vốn. Ngân hàng đã bán gần 3,9 tỷ USD cổ phần vào tháng và 1,5 tỷ USD trái phiếu không có tài sản đảm bảo để đáp ứng các quy định vốn sắp thắt chặt.
Christopher Wheeler, một nhà phân tích tại Mediobanca SpA tại London nói rằng: "Có rất nhiều tin đồn xung quanh các công cụ được ngân hàng sử dụng để tăng vốn và giảm đòn bẩy kể từ khi khủng hoảng.
Nếu chúng bị phát hiện là từng được sử dụng, thị trường sẽ rất hoang mang vì không hiểu số vốn và tỷ lệ đòn bẩy hiện tại có thực sự phản ánh được đúng tình hình tài chính của các ngân hàng hay không."

14/5/13

Dùng thẻ tín dụng nhớ kiểm tra phí

Thẻ tín dụng mang đến nhiều tiện lợi cho người sử dụng, nhưng lưu ý loại thẻ này không chỉ có 1 hay 2 loại phí thông thường như nhiều người “lầm tưởng”.
dung-the-tin-dung-nho-kiem-tra-phi

Hiện nay, hàng loạt ngân hàng (NH) trong và ngoài nước đang chạy đua phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng cá nhân nhằm mở rộng hoạt động, tăng doanh thu trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống NH khá chậm. Tuy vậy, do chạy theo số lượng, không ít NH đã “quên” tư vấn chi tiết cho khách về các nghĩa vụ của họ khi sử dụng thẻ tín dụng.
Bị phạt chậm đóng phí thường niên
Chị Thu An (ngụ Q.Tân Bình, TP.HCM) mới đây tá hỏa khi NH thông báo thu phí trễ hạn đóng phí thường niên, dù chị chưa bắt đầu sử dụng thẻ. Đi nộp phạt chị mới biết khi bàn giao thẻ cho khách là NH đã tự động kích hoạt thẻ và phí thường niên phải được thanh toán ngay.
Vì sơ sót này, thay vì chỉ đóng phí thường niên 300.000 đồng, chị An đã phải đóng tổng cộng 500.000 đồng (phí phạt trễ hạn 200.000 đồng là mức tối thiểu mà NH này áp dụng). Hiện mức phí phạt trễ hạn hay phí chậm thanh toán các NH áp dụng phổ biến từ 3-4% (tối thiểu từ 50.000 – 200.000 đồng).
Như vậy, chỉ cần thanh toán trễ hạn hai lần trong một năm thì số tiền chủ thẻ bị phạt có thể còn cao hơn cả phí thường niên. Đặc biệt, lãi suất tính trên tổng số ngày dư nợ thực tế sẽ lên đến mức 24 – 25%/ năm.
Ngoài phí thường niên được các NH áp dụng cho thẻ tín dụng từ 100.000 – 1.000.000 đồng/năm/thẻ, tùy theo loại thẻ chuẩn hay thẻ vàng, thẻ platium (thường các NH nước ngoài có mức phí cao hơn NH trong nước), người sử dụng nên chú ý đến các loại phí khác mà NH áp dụng khá cao như phí rút tiền mặt thông thường là 4% giá trị giao dịch (một số NH có áp dụng mức tối thiểu từ 50.000 – 200.000 đồng/giao dịch).
Bên cạnh đó, một số NH còn tính thêm lãi suất trên số tiền chủ thẻ đã rút ra; tính phí giao dịch quốc tế hay có nơi gọi là phí chuyển đổi ngoại tệ từ 2 – 3,5% trên giá trị giao dịch; phí mất thẻ/thất lạc là 200.000 đồng/lần/thẻ…
Đó là chưa kể nhiều chủ thẻ khá chủ quan, không lưu giữ các hóa đơn giao dịch của mình để cuối kỳ đối chiếu bảng kê giao dịch từ NH. Khi đó, nếu muốn được cấp lại bản sao hóa đơn giao dịch, chủ thẻ phải trả 80.000 – 100.000 đồng/lần; phí cấp lại số PIN là 30.000 – 50.000 đồng/lần.
Chưa hết, NH cũng sẽ thu những loại phí khác khi chủ thẻ có yêu cầu như phí cung cấp lại bản sao kê, phí khiếu nại sai, phí thay đổi loại thẻ, phí thay đổi hạn mức…
Cẩn trọng khi sử dụng thẻ
Bên cạnh việc lưu ý về các loại phí, chủ thẻ tín dụng cần hết sức cẩn trọng khi sử dụng. Chẳng hạn, với thẻ ATM nếu chẳng may bị mất, kẻ gian phải tốn thời gian dò tìm số PIN để rút tiền; còn với thẻ tín dụng kẻ gian có thể cầm đi thanh toán ở các cửa hàng, trung tâm thương mại vì thực tế thu ngân ở những nơi này thường chỉ lấy thẻ quẹt trừ tiền mà không cần biết người dùng có đúng là chủ thẻ hay không.
Vì thế, ngay khi phát hiện bị mất thì chủ thẻ nên gọi điện thông báo ngay với NH để tạm khóa thẻ. Hiện hầu hết các NH đều đã có dịch vụ thông báo biến động giao dịch vào điện thoại di động; chủ thẻ nên đăng ký dịch vụ này nhằm kịp thời phát hiện những giao dịch bất thường mà không phải mình thực hiện để thông báo với NH xử lý.
Việc sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng trực tuyến cũng dễ bị mất thông tin thẻ. Các NH đã liên tục khuyến cáo khách hàng hãy thận trọng, tránh những đường link giả mạo hệ thống website của NH để lấy cắp thông tin của chủ thẻ.
Ngày 26/4 vừa qua, Vietcombank cũng thông báo những email giả mạo hệ thống Internet Banking cùng với yêu cầu đăng nhập nhằm mục đích cập nhật, kiểm chứng thông tin, nhờ nhận tiền, hoặc thậm chí là để hỗ trợ công tác bảo mật tài khoản…
Đây là một trong những hình thức lừa đảo rất phổ biến hiện nay liên quan đến các giao dịch trên internet. Vì vậy, trước khi nhập số tài khoản thẻ cũng như các thông tin khác, hãy kiểm tra để chắc chắn trang web định mua là an toàn.
 Theo DNSG Online

4/7/12

Công bố kế hoạch phá sản của 9 ngân hàng lớn nhất thế giới

Ngày 3/7, Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) và Fed vừa công bố “di chúc sống” (living wills) mà các ngân hàng phải thực hiện theo đạo luật Dodd-Frank.
Được thông qua vào tháng 7/2010, đạo luật Dodd-Frank xây dựng nhằm tránh lặp lại việc chính phủ phải cứu trợ các ngân hàng sụp đổ trong cuộc khủng hoảng năm 2008. “Di chúc sống” chính là các điều khoản do ngân hàng quy định từ trước về việc nên tiếp tục hành động như thế nào trong trường hợp chính ngân hàng đó sụp đổ, nhằm giảm thiểu thiệt hại đối với các đối tượng khác.

Danh sách công bố hôm qua bao gồm 9 ngân hàng lớn nhất thế giới: JPMorgan Chase, Bank of America, Citigroup, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Barclays, Deutsche Bank, Credit Suisse và UBS. Các ngân hàng này có thể bị đóng cửa và không nhận được sự giúp đỡ của chính phủ. Điều này nhằm giảm thiểu những gánh nặng về thuế tương tự như khi sự kiện Lehman Brothers sụp đổ vào năm 2008.

Bản “di chúc sống” đưa ra một số kế hoạch chi tiết mà các ngân hàng cần phải thực hiện. Các ngân hàng với tài sản phi ngân hàng đạt trên 250 tỷ USD sẽ là những ngân hàng đầu tiên phải đưa ra kế hoạch thanh lý tài sản trong trường hợp phá sản.

Morgan Stanley (ngân hàng dẫn đầu thế giới về nghiệp vụ môi giới) và Goldman Sachs là 2 trong số nhiều ngân hàng có kế hoạch bán tài sản hoặc các bộ phận kinh doanh độc lập trong trường hợp bị phá sản.

Trong khi đó, một số ngân hàng cho biết sẽ không thanh lý toàn bộ mà vẫn giữ lại một số nghiệp vụ kinh doanh chính. Citigroup, ngân hàng lớn thứ 3 nước Mỹ và hoạt động tại hơn 100 nước trên toàn cầu, có kế hoạch tách riêng 2 bộ phận nhận tiền gửi và môi giới. Trong trường hợp bị phá sản, Citigroup sẽ bán bớt bộ phận môi giới và tiếp tục tái cấu trúc bộ phận còn lại.

Trong những tháng tới, cơ quan giám sát sẽ đánh giá liệu các “di chúc sống” này có đưa ra được các kế hoạch hợp lý để có thể đảm bảo phá sản nhanh chóng và theo trật tự hay không. Trong vòng 60 ngày, các ngân hàng có thể bổ sung các thông tin cần thiết.

Thu Hương

Theo TTVN/Bloomberg

7/6/12

Trần lãi suất huy động giảm "siêu tốc" về 9%/năm

Giải trình trước diễn đàn Quốc hội chiều nay 7/6, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết sẽ hạ trần lãi suất huy động VND từ mức 11%/năm về mức 9%/năm, từ ngày 11/6 tới.

Sắp hạ trần lãi suất huy động về mức 9%/năm.
Sắp hạ trần lãi suất huy động về mức 9%/năm.
Theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình, Ngân hàng Nhà nước đã trình Thủ tướng Chính phủ và được chấp thuận tiếp tục hạ trần lãi suất huy động VND.
Cụ thể, từ ngày 11/6 tới, trần lãi suất huy động VND sẽ giảm từ mức 11%/năm hiện nay xuống còn 9%/năm.
Dự tính, mức trần 9%/năm sẽ áp cho các kỳ hạn từ 1 tháng trở lên; còn các kỳ hạn dưới 1 tháng có thể sẽ chỉ còn 1%/năm, nếu tính theo bước giảm lần này.
Đón đầu đợt cắt giảm trần lãi suất huy động VND từ Ngân hàng Nhà nước, sáng nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã bất ngờ giảm mạnh lãi suất huy động VND ở hầu hết các kỳ hạn.
Còn theo thông báo từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các đối tượng ưu tiên và cả nhóm kahcsh hàng vay mua nhà ở mức 12%/năm.

(THeo DANTRI)

6/4/12

Trần lãi suất tiền gửi sắp hạ xuống 12%

Đại diện Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, trước mắt, NHNN sẽ điều chỉnh trần lãi suất huy động về 12%, tiếp tục thực hiện lộ trình từng bước hạ lãi suất đến cuối năm, dựa trên cơ sở kinh tế vĩ mô cho phép.
Bà Đỗ Thị Nhung, Vụ phó Vụ Chính sách tiền tệ - NHNN (ảnh B.D).

Sáng nay (6/4), góp phần tham luận tại Hội thảo "Giải pháp vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Góc nhìn từ ngân hàng" do VCCI tổ chức, bà Đỗ Thị Nhung, Vụ phó Vụ Chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ điều chỉnh trần lãi suất huy động về 12%/năm.

Theo đó, với tình hình kinh tế vĩ mô ổn định, đà lạm phát được kiểm soát ở mức thấp trong suốt 8 tháng vừa qua (kể từ tháng 8/2011) cũng như tình hình thanh khoản tại các ngân hàng được cải thiện, vốn cho tín dụng dồi dào, đây là những cơ sở cho việc hạ trần lãi suất huy động, từ đó làm tiền đề để hạ lãi suất cho vay, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp.

Dẫn lại phát ngôn của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đưa ra trước đó, bà Nhung cho biết, từ nay đến cuối năm, chính sách tiền tệ vẫn sẽ tiếp tục được điều hành một cách linh hoạt. Nếu điều kiện vĩ mô cho phép, mỗi một quý, lãi suất chính sách sẽ giảm 1%. Đến cuối năm, mục tiêu có thể hạ lãi suất huy động xuống 10-11%/năm, lãi suất cho vay cũng sẽ giảm tương ứng.

Đại diện Vụ chính sách tiền tệ cũng khuyến cáo ngân hàng thương mại cần tiết giảm được các chi phí kinh doanh, có như vậy mới tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn rẻ. Đồng thời, phía ngân hàng cũng cần phải cơ cấu lại nợ đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn do tồn kho lớn. Tuy nhiên, bà Nhung lưu ý, vấn đề giảm lãi và miễn lãi với khách hàng hoàn toàn nằm trong thẩm quyền của các ngân hàng thương mại, NHNN chỉ có tính chất định hướng.

Loại thêm một số đối tượng ra khỏi diện "không khuyến khích"

Về phần mình, cơ quan điều hành tiền tệ quốc gia sẽ tiếp tục cung ứng vốn qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và nghiệp vụ tái cấp vốn để hỗ trợ thanh khoảng cho các ngân hàng thương mại, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt để điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu. Bà Nhung cũng khẳng định, chủ trương của NHNN là tạo điều kiện tối đa để những doanh nghiệp nhỏ và vừa là những đối tượng được ưu tiên về vốn vay.

Trong khi đó sẽ nghiên cứu để áp tỷ lệ với các đối tượng không khuyến khích như cho vay tiêu dùng, đối tượng vay mua nhà ở và loại trừ thêm các đối tượng nằm trong diện này. Hồi đầu năm, NHNN mới chỉ loại trừ đối tượng mua nhà ở với các đối tượng thu nhập thấp, mua nhà thu nhập thấp, xây nhà công nhân.

"Sắp tới, NHNN sẽ loại trừ thêm một số đối tượng khác. Đây là một trong những dự kiến của NHNN, nếu xét thấy hợp lý sẽ sớm công bố cho thị trường biết", bà Nhung cho hay.

NHNN cũng khuyến nghị ngân hàng thương mại tập trung huy động được nguồn vốn trung và dài hạn - đây mới là nguồn vốn mà các doanh nghiệp đang cần. Điều này cần dựa trên kỳ vọng của người dân, phải làm sao để nếu họ muốn được hưởng lãi suất cao hơn thì họ phải gửi kỳ hạn dài hơn.

Ngoài ra, cơ quan này cũng đang tiếp tục có những nghiên cứu để nâng cao năng lực thẩm định của các ngân hàng nhằm triển khai các sản phẩm cho vay không có tài sản bảo đảm, dựa trên uy tín của các doanh nghiệp mà cho vay. Như vậy, các doanh nghiệp có năng lực tài chính tốt vẫn có thể vay được vốn ngân hàng.

Mở rộng các sản phẩm phái sinh cung cấp cho doanh nghiệp

Về dài hạn, NHNN vẫn đang tiếp tục chính sửa các quy định pháp lý để vừa đảm bảo được an toàn hệ thống, đây cũng phù hợp với chủ trương của Chính phủ về việc đơn giản thủ hành chính. Các văn bản này cũng tạo điều kiện cho các TCTD triển khai các sản phẩm phái sinh theo thông lệ quốc tế.

Bà Nhung cho biết, ngoài việc áp dụng các công cụ truyền thống, vừa qua NHNN đã cho phép một số ngân hàng có quy mô lớn như VietinBank, MB thực hiện các công cụ phái sinh theo thông lệ hàng hóa như bảo hiểm giá cả hàng hóa, hoán đổi lãi suất... Những sản phẩm dịch vụ phái sinh này sẽ giúp ngân hàng phòng ngừa rủi ro, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Trước đó, ngày 13/3, trần lãi suất huy động đã giảm từ 14%/năm về 13%/năm cho kỳ hạn từ 1 tháng trở lên. Trần lãi suất huy động với kỳ hạn dưới 1 tháng cũng giảm 1% còn 5%/năm.

(Theo Dân trí)

19/12/11

NHTM phải có tổng tài sản tối thiểu 100.000 tỷ đồng

NHNN vừa ban hành Thông tư số 40/2011/TT-NHNN quy định về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.

Thông tư được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đáp ứng các yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính theo Nghị quyết của Chính phủ và đáp ứng những yêu cầu về tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng với một số nội dung mới cơ bản.

Điều kiện đối với cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập

Bổ sung điều kiện “Không phải là cổ đông sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của một tổ chức tín dụng Việt Nam” để hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng, xung đột lợi ích tiềm tàng và bảo đảm nguồn lực tài chính của một cổ đông, thành viên sáng lập tập trung vào một ngân hàng thương mại.

Bổ sung điều kiện “Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế và bảo hiểm xã hội theo quy định” nhằm đảm bảo năng lực tài chính là thực sự lành mạnh.

Nâng cao điều kiện “Có lãi trong 5 năm liên tiếp liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép” quy định trước đây là 3 năm; đối với tổ chức là ngân hàng thương mại “Có tổng tài sản tối thiểu 100.000 tỷ đồng.... tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép” quy định trước đây là 50.000 tỷ đồng, việc sửa đổi này nhằm đảm bảo sang lọc được các tổ chức tham gia thành lập ngân hàng thực sự có tiềm lực tài chính đáp ứng được các yêu cầu phát triển mới của hệ thống ngân hàng.

Bổ sung điều kiện “Tuân thủ điều kiện, giới hạn mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng” đây là quy định mới của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm hạn chế việc sở hữu chéo giữa các ngân hàng trong hệ thống.

Thay thế điều kiện về tỷ lệ nợ xấu bằng quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng đầy đủ nhằm phản ánh được khả năng quản trị rủi ro và sự chuẩn bị của ngân hàng thương mại khi tổn thất phát sinh.

Tổ chức và hoạt động

Bổ sung quy định về tên và trụ sở chính nhằm bảo đảm sự phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan và tạo cơ sở rõ ràng cho ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện thực hiện.

Bổ sung quy định về đăng ký Điều lệ nhằm hướng dẫn thực hiện quy định mới của Luật các Tổ chức tín dụng thay vì chuẩn y như quy định trước đây.

Bổ sung một số quy định về trách nhiệm của Hội đồng thẩm định, áp dụng hình thức phỏng vấn trực tiếp trong công tác thẩm định của Ngân hàng Nhà nước.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/2/2012.

(Theo Dien dan doanh nghiep)

17/12/11

Quy định mới về kiểm toán ngân hàng, kiểm toán cả hệ thống kiểm soát nội bộ

Xem hình

Ngày 15/12/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 39/2011/TT-NHNN quy định về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Tải Thông tư 39 tại đây


Theo đó, đối tượng áp dụng của Thông tư bao gồm: (i) TCTD (gồm: Ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã; Tổ chức tín dụng phi ngân hàng; Tổ chức tài chính vi mô; Quỹ tín dụng nhân dân có tổng tài sản từ 50 tỷ đồng trở lên tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm liền kề trước năm kiểm toán); (ii) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (iii) Tổ chức kiểm toán độc lập, kiểm toán viên hành nghề, kiểm toán viên và các tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc kiểm toán độc lập TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (iv) Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương trong thời gian chưa chuyển đổi theo quy định của Luật các TCTD thực hiện kiểm toán độc lập theo quy định đối với ngân hàng.

Về phạm vi kiểm toán, định kỳ hàng năm, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập theo quy định của Thông tư này để kiểm toán độc lập 2 nội dung là báo cáo tài chính và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Bên cạnh đó, NHNN yêu cầu TCTD sử dụng một hoặc một số dịch vụ kiểm toán độc lập khi xét thấy cần thiết trong các trường hợp sau: TCTD có nguy cơ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; TCTD được xem xét để chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt; TCTD được tổ chức lại theo quy định tại Điều 153 Luật các TCTD; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, việc kiểm toán báo cáo tài chính bán niên, báo cáo quyết toán dự án hoàn thành và các công việc kiểm toán khác của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (nếu có) thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

NHNN khuyến khích TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lập để kiểm toán đối với các hạn chế nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Liên quan đến thời gian lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập, Thông tư quy định rõ: Trước khi kết thúc năm tài chính, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập theo quy định của Thông tư này để kiểm toán báo cáo tài chính, hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ năm tài chính tiếp theo. Trường hợp tổ chức kiểm toán độc lập đã được lựa chọn nằm trong Danh sách không được kiểm toán cho năm tiếp theo do NHNN công bố, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lựa chọn một tổ chức kiểm toán khác đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 11 và Điều 12 Thông tư này để thay thế. Thời hạn lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập thay thế tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày NHNN công bố danh sách không được kiểm toán.

Về nội dung kiểm toán độc lập, đối với báo cáo tài chính của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải kiểm toán: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính. Đối với hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải kiểm toán: Kiểm toán tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành, quy định của NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Kiểm toán hoạt động đối với hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm bảo đảm các yêu cầu sau: Hiệu quả và an toàn hoạt động; bảo vệ, quản lý, sử dụng an toàn, hiệu quả tài sản và các nguồn lực; Hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định cụ thể về thẩm quyền lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập; Ý kiến, kết quả kiểm toán; Điều kiện đối với tổ chức kiểm toán độc lập; Tiêu chuẩn đối với kiểm toán viên hành nghề tham gia kiểm toán TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến việc kiểm toán độc lập đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012 và thay thế Quyết định số 121/2005/QĐ-NHNN ngày 02/02/2005 của Thống đốc NHNN ban hành quy chế về kiểm toán độc lập đối với TCTD. Đối với những hợp đồng kiểm toán được ký kết trước ngày Thông tư này có hiệu lực pháp luật được tiếp tục thực hiện theo các thoả thuận đã ký kết.

(Theo SBV)

7/12/11

3 đại gia Vietcombank, Vietinbank và BIDV "so găng"

Theo lộ trình, sau IPO, BIDV sẽ lên sàn Hose. Xét về quy mô và tầm cỡ, sàn Hose sẽ có thêm 1 đại gia ngân hàng cùng với VCB và CTG. Dưới đây là 1 số so sánh giữa 3 đại gia này.
Sự kiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của ngân hàng BIDV đang là 1 sự kiện nóng của thị trường tài chính Việt Nam. Sau khi IPO, theo lộ trình BIDV cũng sẽ lên niêm yết trên sàn Hose.

Cùng với Vietcombank (VCB) và Vietinbank (CTG) đã niêm yết, xét về quy mô thì BIDV, VCB và CTG có thể được xếp vào hàng "đại gia" ngân hàng của Việt Nam trên Hose.

Ngày 6/12/2011, BIDV đã công bố giá khởi điểm đấu giá IPO là 18.500 đồng/cp; giá đóng cửa hôm nay của VCB là 22.200 đồng/cp; giá đóng cửa của CTG là 20.200 đồng/cp.

Dưới đây là hình ảnh của 3 đại gia dưới 1 số chỉ tiêu tiêu biểu.

Tài sản, Dư nợ, Huy động vốn
Tổng tài sản/Dư nợ/Huy động của 3 ngân hàng đến cuối Q3/2011
(Số liệu hợp nhất theo BCTC)

Các chỉ tiêu về tổng tài sản, dư nợ, huy động vốn thì dẫn đầu là Vietinbank (CTG), tiếp đến là BIDV và VCB.

Duy nhất chỉ có VCB là tăng trưởng dương về huy động tiền gửi của khách hàng (tăng 8,49%) trong khi tiền gửi của BIDV và VCB đều giảm.

Tăng trưởng tổng tài sản của Vietinbank cũng cao hơn so với 2 ngân hàng kia.

CAR, Nợ xấu
(CAR: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu)
(Số liệu đến cuối Q3/2011)

BIDV VCB CTG
CAR 10.28% 10% 9.86%
Nợ xấu (tỷ đồng) 7,403 7,478 3,932
Tỷ lệ nợ xấu 2.67% 3.94% 1.44%
Nợ xấu (nợ nhóm 3-4-5) của BIDV và VCB tương đương nhau với hơn 7.400 tỷ đồng, trong khi của CTG chưa đến 4.000 tỷ đồng.
Xét về tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, CTG thấp nhất đạt 1,44%. Của VCB và BIDV lần lượt là 3,94% và 2,67%.

Quy mô nhân lực

Đến 30/9, CTG có hơn 18.300 nhân viên, hơn gấp rưỡi so với VCB. Số nhân viên của BIDV là hơn 16.500 người.

Lợi nhuận, ROA, ROE

Đv: Tỷ đồng BIDV VCB CTG
LNTT Năm 2010

4,626

5,479

4,598

LNTT 9T 2011

3,182

4,615

5,957

LN ròng 9T 2011

2,531

3,479

4,494

ROA 9 tháng 0.64% 1.04% 1.08%
ROE 9 tháng 10.27% 12.19% 18.48%

Năm 2010, VCB có lợi nhuận trước thuế hợp nhất lớn nhất, đạt gần 5.500 tỷ đồng. Lợi nhuận của BIDV và CTG xấp xỉ nhau (~4.600 tỷ đồng).

Trong 9 tháng đầu năm nay thì lợi nhuận của CTG tăng vọt lên gần 6.000 tỷ đồng, cao hơn 30% so với cả năm 2010.

VCB đạt 4.615 tỷ đồng, lợi nhuận có thể tăng mạnh trong Q4 khi hạch toán lợi nhuận từ việc bán cổ phần của ngân hàng Shinhan Vina.

BIDV đạt 3.182 tỷ đồng LNTT 9 tháng. Theo như công bố thông tin cổ phần hóa thì LNTT 11 tháng đầu năm của ngân hàng BIDV đạt 4.100 tỷ đồng.

Theo “tiền lệ” thì lợi nhuận của VCB và CTG đã tăng mạnh sau khi cổ phần hóa.

Lượng vốn huy động qua đấu giá lần đầu
Tính theo khối lượng vốn cần huy động (khối lượng đấu giá nhân với giá khởi điểm) thì đợt đấu giá của BIDV dự kiến huy động 1.568 tỷ đồng.

Vốn hóa
Tính theo giá khởi điểm 18.500 đồng và vốn điều lệ dự kiến thì vốn hóa của BIDV đạt hơn 52.265 tỷ đồng - lớn nhất trong số 3 ngân hàng.
Vốn hóa của CTG đã tạm tính lượng cổ phiếu đang chào bán cho cổ đông hiện hữu.
Cơ cấu dư nợ

Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn tại BIDV, VCB và CTG
Cơ cấu dư nợ của 3 ngân hàng đều tập trung chủ yếu ở kỳ hạn ngắn tuy nhiên phân bổ tỷ lệ có sự khác nhau. Trong khi dư nợ ngắn hạn tại BIDV và VCB chỉ 54-55% thì tỷ lệ này ở CTG lên xấp xỉ 60%.
Dư nợ cho vay dài hạn tại BIDV và VCB đều trên 33% thì tại CTG chỉ 29,54% dư nợ dài hạn. Dư nợ dài hạn cao tại BIDV do đây là ngân hàng bán buôn và được Chính phủ chỉ định là ngân hàng giản ngân các khoản vay ODA. Trong khi đó CTG sau cổ phần hóa đã chuyển hóa và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

Mạng lưới

Mạng lưới của các ngân hàng

Theo thông tin từ các ngân hàng thì đến năm 2011 mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của 3 ngân hàng đều phủ khắp cả nước. Trong đó CTG phát triển mạnh số lượng PGD, tuy nhiên VCB và BIDV thì tăng trưởng mạnh số ượng ATM.
Số lượng chi nhánh của BIDV vượt qua VCB và lọt vào top 3 ngân hàng có số lượng chi nhánh và PGD trên cả nước, sau Agribank và CTG.

Theo TTVN

3/3/11

Lãi suất huy động VND không được quá 14,5%/năm

Mức “trần” lãi suất huy động đã được chính thức quy định tại Thông tư số 02/2011/TT-NHNN được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành ngày 3.3.

Mức “trần” lãi suất huy động đã được luật hóa thay vì chỉ thực hiện theo cam kết đồng thuận giữa các TCTD.
Mức “trần” lãi suất huy động đã được luật hóa thay vì chỉ thực hiện theo cam kết đồng thuận giữa các TCTD.

Thông tư quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trước đó, mức “trần” lãi suất huy động chỉ được nhắc đến trong các cam kết đồng thuận giữa các TCTD.

Theo Thông tư này, TCTD ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam (gồm lãi suất tiền gửi, lãi suất giấy tờ có giá) của các tổ chức (trừ TCTD) và cá nhân bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm. Riêng đối với các Quỹ Tín dụng nhân dân cơ sở ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam không vượt quá 14,5%/năm. Mức lãi suất huy động vốn tối đa này áp dụng đối với phương thức trả lãi cuối kỳ; đối với các phương thức trả lãi khác, phải được quy đổi theo phương thức trả lãi cuối kỳ tương ứng với mức lãi suất huy động vốn tối đa.

Đồng thời, NHNN yêu cầu, TCTD niêm yết công khai lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam tại các địa điểm huy động vốn (hội sở chính, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm) theo quy định của NHNN. Thông tư này cũng nêu rõ nghiêm cấm việc các TCTD thực hiện khuyến mại huy động vốn bằng tiền, lãi suất và các hình thức khác không đúng với quy định của pháp luật và Thông tư này.

Thông tư có hiệu lực kể từ ngày hôm nay 3.3. Các cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện quy định về mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam. Đồng thời, áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với TCTD vi phạm quy định tại Thông tư này.


(Theo Laodong.com.vn)

2/3/11

Lãi suất tiền gửi tài khoản lên tới 9%/năm

picture

Theo VPBank, đây là mức lãi suất hấp dẫn nhất trên thị trường hiện nay ở loại tiền gửi này.

Đây là chính sách mà Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) áp dụng cho sản phẩm mới - VP Super.

VP Super là bộ sản phẩm tài khoản trọn gói, bao gồm các tiện ích ngân hàng hiện đại và lợi ích hấp dẫn, sản phẩm đầu tiên trong gói dịch vụ tài chính cá nhân mà VPBank cung cấp trong năm 2011.

Theo giới thiệu của VPBank, thông thường, khách hàng khi đăng ký dịch vụ tài khoản của các ngân hàng sẽ được nhận mức lãi suất không kỳ hạn từ 1,4% - 4%/năm, tùy theo quy định của mỗi ngân hàng. Khác biệt hẳn về mức lãi suất, VP Super là dịch vụ tài khoản dành cho các khách hàng có nguồn tiền luân chuyển qua tài khoán thanh toán và được hưởng mức lãi suất vượt trội, hấp dẫn nhất trên thị trường là 9%.

Bên cạnh đó, khách hàng có thể sử dụng tài khoản VP Suprer thông qua nhiều hình thức giao dịch tiện ích như qua điện tin nhắn điện thoại, qua internet…

Khi đăng ký bộ tài khoản VP Super, khách hàng sẽ được nhận số tài khoản thanh toán; thẻ ATM với hạn mức rút tiền mặt cao hơn so với thẻ ATM hiện tại của VPBank (20 triệu/ lần, 100 triệu/ngày), chuyển tiền qua ATM không hạn chế số tiền, dịch vụ internet banking gói cao cấp và dịch vụ SMS banking.

(Theo Vneconomy)

11/2/11

Tăng tỷ giá USD/VND, rút biên độ

picture

Như vậy những dự tính về điều chỉnh tỷ giá USD/VND thời gian qua đã cụ thể.

Ngân hàng Nhà nước đã chính thức điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND, đồng thời rút biên độ xuống còn +/-1%.

Đầu giờ sáng nay (11/2), Ngân hàng Nhà nước công bố cơ chế điều hành tỷ giá mới.

Thông báo cho biết, thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và nhằm tăng tính thanh khoản của thị trường ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 20.693 VND/USD (tăng 9,3% so với mức 18.932 VND trước đó) và thu hẹp biên độ giao dịch từ +/-3% xuống +/-1% áp dụng cho ngày 11/2/2011.

Với điều chỉnh trên, mức giá trần bán ra theo biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại ngày 11/2 sẽ ở mức 20.900 VND, mức sàn là 20.486 VND.

Một điểm đáng chú ý là Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết sẽ điều hành tỷ giá bình quân liên ngân hàng tương đối linh hoạt trong thời gian tới, thay vì cố định kéo dài như trong thời gian qua.

“Các biện pháp này sẽ tạo điều kiện để điều hành tỷ giá chủ động, phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ, bảo đảm tăng tính thanh khoản của thị trường, góp phần kiềm chế nhập siêu và hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn”, Ngân hàng Nhà nước lý giải.

(Theo Vneconomy)

9/2/11

Chuyển đổi ngân hàng Agribank thành công ty TNHH Một thành viên

Ảnh minh họa.
Thống đốc NHNN vừa ký quyết định chuyển đổi Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) thành công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu, với tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development; tên viết tắt bằng tiếng Anh là Agribank.

Agribank có trụ sở chính tại Lô 2B.XV, Khu đô thị mới Mỹ Đình I, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ngành, nghề kinh doanh là kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ hơn 20.000 tỷ đồng (con số chính xác là 20.708.736.216.715 đồng). 100% vốn điều lệ do Nhà nước sở hữu.

Thủ tướng Chính phủ và các Bộ theo sự uỷ quyền của Chính phủ thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Sau khi chuyển đổi thành công ty TNHH MTV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam kế thừa các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp và xử các vấn đề tồn tại, phát sinh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trước khi chuyển đổi.

Cơ cấu tổ chức quản lý của Agribank bao gồm Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam; có con dấu và tài khoản riêng; tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, các quy định của pháp luật có liên quan và Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Thống đốc NHNN yêu cầu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hoàn tất các thủ tục theo quy định để chuyển đổi thành công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu theo đúng các quy định tại Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/03/2010 của Chính phủ, bao gồm: Sửa đổi, bổ sung điều lệ phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành; Điều chỉnh cơ cấu, tổ chức để phù hợp với quy định của Luật các TCTD và các quy định của pháp luật có liên quan; Đăng ký doanh nghiệp và đăng ký lại quyền sở hữu tài sản đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam; Xử lý tài sản, tài chính để xác định chính xác số vốn Nhà nước thực có đến thời điểm 30/06/2010 để làm căn cứ xác định mức vốn điều lệ thực có của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam khi thực hiện chuyển đổi theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP. Sau khi xác định mức vốn điều lệ thực có, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có trách nhiệm thực hiện việc điều chỉnh mức vốn điều lệ theo quy định hiện hành


(Theo Efinance)

21/12/10

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu 5 ngân hàng báo cáo tình hình hoạt động

picture

Trụ sở Vietcombank tại 198 Trần Quang Khải - Hà Nội.

Ngày 20/12, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Công văn số 9881/NHNN-TCCB gửi lãnh đạo 5 ngân hàng thương mại, để yêu cầu báo cáo tình hình hoạt động.

Đó là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank).

Theo công văn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu các ngân hàng trên đánh giá về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2008 đến hết năm 2010 (năm 2010 là số dự tính), đồng thời nêu những thuận lợi khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.

Đánh giá về tình hình đầu tư của đơn vị: về tổng số vốn đầu tư, tỷ lệ vốn đầu tư vào ngành nghề sản xuất kinh doanh chính, ngành nghề không liên quan tới lĩnh vực kinh doanh chính (đặc biệt là tỷ lệ đầu tư kinh doanh tài chính, chứng khoán, bất động sản, ngân hàng của đơn vị).

Đánh giá về việc tổ chức và hoạt động theo mô hình tổng công ty, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu đối với mô hình tổng công ty, tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp hạch toán độc lập trực thuộc các ngân hàng thương mại cho đến 1/12/2010. Các kiến nghị áp dụng đặc thù cho các ngân hàng, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh, mô hình tổ chức của các ngân hàng cần được chỉnh sửa (nếu có).

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các đơn vị lập báo cáo và gửi về Vụ Tổ chức cán bộ - Ngân hàng Nhà nước trước ngày 28/12/2010 để tổng hợp.

(Theo Vneconomy)

13/12/10

Chính thức gia hạn tăng vốn pháp định ngân hàng thêm một năm

Trụ sở Ngân hàng Nhà nước.

Thủ tướng Chính phủ chấp thuận phương án gia hạn thêm một năm tiến độ tăng vốn pháp định của các ngân hàng
Thủ tướng Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước phối hợp cùng các cơ quan liên quan trình Chính phủ trước ngày 15/12/2010 việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 141 theo hướng gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng đến 31/12/2011, thay vì 31/12/2010.

Trưa nay (14/12), Ngân hàng Nhà nước phát đi thông tin liên quan đến khả năng giãn tiến độ tăng vốn pháp định của các tổ chức tín dụng. Cổng thông tin của cơ quan này dẫn ý kiến của ông Dương Quốc Anh, Chánh thanh tra - giám sát của Ngân hàng Nhà nước, với những điểm đáng chú ý.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã có phương án đề xuất và đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Thủ tướng đã có chỉ đạo giao Ngân hàng Nhà nước phối hợp cùng các cơ quan liên quan trình Chính phủ trước ngày 15/12/2010 việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 141 theo hướng gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng đến 31/12/2011.

Cũng theo nguồn tin trên, ông Dương Quốc Anh cho biết, tại Việt Nam, gần 20 năm qua, khi hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam được định hình và từng bước đa dạng hoá các loại hình tổ chức tín dụng, vấn đề nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng luôn được các cơ quan chức năng đặt ra như là một vấn đề cốt lõi không chỉ của từng tổ chức tín dụng mà còn là mục tiêu của cả hệ thống tài chính ngân hàng.

Vấn đề trên trở nên đặc biệt quan trọng hơn khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Bởi vì có nâng cao năng lực tài chính mới có thể tạo ra thực lực để hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam nâng cao được khả năng chống đỡ rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và trên diện rộng.

Bên cạnh đó, kể từ khi ban hành Pháp lệnh Ngân hàng và hai luật vào những năm 90, hệ thống ngân hàng đã có thêm một bước tiến mới về sự đa dạng các loại hình tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, các tổ chức tín dụng đã có sự phân hoá rõ rệt về năng lực hoạt động mà chủ yếu lại bắt nguồn từ năng lực tài chính. Thực tế, các tổ chức tín dụng có quy mô vốn nhỏ, nhìn chung lại là những đối tượng phải đặc biệt quan tâm, hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý, nhất là khi có biến cố bất thường của thị trường và sự đổi mới về cơ chế chính sách.

“Vì vậy, việc sàng lọc để duy trì các tổ chức tín dụng mạnh về tài chính, có khả năng quản trị điều hành để tồn tại vững vàng trên thị trường, loại bỏ những nhân tố yếu kém là một trong những mục tiêu dài hạn mà ngành ngân hàng và Chính phủ đặt ra. Theo đó, việc yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng năng lực tài chính thông qua việc tăng vốn điều lệ còn là một giải pháp hữu hiệu để góp phần quy hoạch lại hệ thống các tổ chức tín dụng”, ông Quốc Anh nói.

“Do vậy, việc yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng vốn điều lệ để nâng cao năng lực tài chính là một giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh nền kinh tế và hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng tại thời điểm ban hành Nghị định số 141 và phù hợp với chủ trương trong dài hạn của Đảng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm xây dựng hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động ổn định và phát triển bền vững”.

Nghị định số 141 quy định mức vốn pháp định và lộ trình tăng vốn điều lệ đối với từng loại hình tổ chức tín dụng để đảm bảo mức vốn pháp định này. Theo đó, các tổ chức tín dụng có thời gian 4 năm (Nghị định 141 được ban hành ngày 22/11/2006) để thực hiện việc tăng vốn điều lệ với 2 giai đoạn cụ thể (giai đoạn 1 kết thúc 31/12/2008 và giai đoạn 2 kết thúc 31/12/2010).

Quy định này đã cho phép các tổ chức tín dụng có thời gian để chủ động kế hoạch tăng vốn điều lệ của mình, chủ động điều chỉnh tăng quy mô vốn phù hợp với quy mô hoạt động và năng lực quản trị điều hành, có cơ sở đảm bảo việc tăng vốn điều lệ góp phần tăng năng lực tài chính, đồng thời duy trì tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, lãnh đạo chức năng nói trên của Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong giai đoạn 2, cơ quan này tiếp tục xây dựng lộ trình cụ thể chỉ đạo các tổ chức tín dụng sớm hoàn tất các thủ tục pháp lý làm cơ sở triển khai việc tăng vốn điều lệ trong năm 2010 (yêu cầu chậm nhất 30/6/2010, các tổ chức tín dụng phải trình hồ sơ đề nghị tăng vốn điều lệ). Theo đó, đến cuối tháng 9/2010, hầu hết các tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấp thuận về vấn đề này.

“Về phía các tổ chức tín dụng, tất cả các tổ chức tín dụng thời gian qua đều đã và đang rất nỗ lực để hoàn thành việc tăng vốn điều lệ theo đúng lộ trình quy định của Chính phủ. Nhiều tổ chức tín dụng đã thể hiện được khả năng chắc chắn hoàn thành việc tăng vốn đúng thời hạn quy định. Tuy nhiên, quá trình tăng vốn điều lệ đã chịu tác động của một số nguyên nhân khách quan, khiến việc tăng vốn điều lệ từ các nguồn khác nhau của nhiều tổ chức tín dụng trong nước gặp phải một số khó khăn”, ông Anh giải thích.

Cụ thể, bối cảnh nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng và thị trường tài chính trong nước có nhiều biến động đến nay chưa có nhiều dấu hiệu khả quan - điều này dẫn đến thị trường chứng khoán trong suốt một thời gian dài hoạt động cầm chừng, trong khi nhiều ngân hàng cùng tăng vốn một lúc, làm cho cổ phiếu ngân hàng không còn hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Bản thân các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức cũng gặp khó khăn trong việc mở rộng đầu tư ra các quốc gia khác. Vì thế hầu hết các nguồn tăng vốn điều lệ chủ yếu của tổ chức tín dụng như phát hành cổ phiếu cho các cổ đông hiện hữu, phát hành ra công chúng hay phát hành cho các nhà đầu tư nước ngoài đều không thuận lợi.

Thứ hai, chủ trương của Chính phủ trong việc hạn chế các tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước góp vốn ra ngoài lĩnh vực chính và yêu cầu các doanh nghiệp này thoái vốn tại các tổ chức tín dụng để tập trung vào hoạt động kinh doanh chủ yếu cũng là một khó khăn lớn cho các tổ chức tín dụng cổ phần có cổ đông hiện hữu là các tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước này khi thực hiện tăng vốn điều lệ.

Thứ ba, một số tổ chức tín dụng cổ phần đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cũng gặp phải một số quy định về thời gian khi phát hành cổ phiếu ra công chúng mà không thể hoàn tất việc tăng vốn điều lệ đúng thời hạn quy định.

Theo đó, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước đối với việc yêu cầu tiếp tục thực hiện tăng vốn điều lệ theo Nghị định 141 là: “Việc yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng vốn điều lệ để nâng cao năng lực tài chính là một chủ trương đúng đắn, có giá trị dài hạn, cần phải tiếp tục nhất quán thực hiện mục tiêu này. Những khó khăn vướng mắc là khách quan, tạm thời và có tính thời điểm. Do vậy, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động báo cáo và đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giãn tiến độ tăng vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng”.

Việc giãn tiến độ này được xác định theo các mục tiêu định hướng là tiếp tục duy trì mục tiêu tăng vốn điều lệ để nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng; tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng tăng vốn điều lệ để sớm đạt được mức vốn pháp định; giảm bớt áp lực về thời gian tăng vốn cho các tổ chức tín dụng chưa thể tăng đủ ngay mức vốn pháp định, nhưng đảm bảo có sự công bằng đối với những tổ chức tín dụng thời gian qua đã nỗ lực tăng vốn để đảm bảo đủ mức vốn pháp định theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Về chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ông Anh cho biết Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương thực hiện.

(Theo Vneconomy)

Đem 10.000 tỷ đồng 'dụ' ngân hàng

Ông Vũ Xuân Lai đến chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội ở Khánh Hòa đặt vấn đề gửi tiết kiệm 10.000 tỷ đồng. Số tiền quá lớn nên Ban giám đốc nhà băng nghi ngờ, từ chối.

Công an tỉnh Khánh Hòa cho biết, Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC15) đang thụ lý vụ hai kiểm soát viên của chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB) làm sổ tiết kiệm khống 50 tỷ đồng nhằm ký hợp đồng với một khách hàng đòi gửi vào ngân hàng 10.000 tỷ đồng.

Vụ việc do ông Trương Ngọc Nguyên - Giám đốc chi nhánh SHB tại Khánh Hòa phát hiện và trình báo với Công an thành phố Nha Trang. Vì vụ việc có tính chất nghiêm trọng nên công an thành phố Nha Trang đã chuyển cho công an tỉnh Khánh Hòa xử lý.

Theo đó, hai kiểm soát viên là Chu Thị Hằng Nga và Nguyễn Thị Trúc Kiều đã phát khống một sổ tiết kiệm trị giá 50 tỷ đồng cho khách hàng Vũ Xuân Lai - sinh năm 1957, trú quán huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Trụ sở chi nhánh ngân hàng SHB ở Khánh Hòa. Ảnh: Nam Điền
Trụ sở chi nhánh ngân hàng SHB ở Khánh Hòa. Ảnh: Nam Điền

Theo thông tin sơ bộ, đầu tháng 11, ông Lai đến ngân hàng SHB đặt vấn đề gửi tiết kiệm 10.000 tỷ đồng vốn vay ODA, với yêu cầu chỉ nhận lãi suất 35% trong 10 năm, tức chưa đến 3% một năm. Trong khi đó, ngân hàng này đang huy động tiền gửi với lãi suất 12% một năm. Đồng thời, ông Lai cũng yêu cầu ngân hàng lập một sổ tiết kiệm mang tên ông Lai. Trước số tiền quá lớn, Ban giám đốc ngân hàng SHB đặt nghi vấn, nên không chấp nhận yêu cầu của ông Lai.

Tuy nhiên, hai nhân viên Nga và Kiều đã tự ý làm sổ tiết kiệm khống trị giá 50 tỷ đồng để tạo lòng tin cho ông Lai, đợi cho ông này gửi số tiền 10.000 tỷ đồng vào ngân hàng thì mới hợp thức hóa sổ tiết kiệm khống nói trên. Tối 8/12, ông Vũ Xuân Lai hẹn hai nhân viên làm việc, xem sổ tiết kiệm 50 tỷ đồng rồi cầm luôn không trả lại.

Sự việc được hai nhân viên báo lại với ban giám đốc. Giám đốc Chi nhánh SHB lập tức báo ngay cho Công an thành phố Nha Trang can thiệp. Ngay trong tối 8/12, công an thành phố Nha Trang đã làm việc với ông Lai, thu hồi sổ tiết kiệm và chuyển hồ sơ lên Công an tỉnh Khánh Hòa điều tra. Công an cũng cho rằng, vụ việc này có dấu hiệu lừa đảo.


(Theo Vnexpress)

Giá vàng, USD tăng mạnh sáng đầu tuần

picture

Việc vàng trong nước tăng giá sáng nay được giới kinh doanh vàng lý giải phần nhiều là do giá USD tăng mạnh trở lại.

Giá vàng trong nước sáng đầu tuần hôm nay (13/12) ít biến động, nhưng giá USD thị trường tự do bật tăng gần 100 đồng đã kéo giá vàng trong nước tiến sát mức 36 triệu đồng/lượng. Nhiều chuyên gia dự báo giá vàng quốc tế có thể tăng trở lại trong tuần này.

Lúc hơn 9h sáng nay, các doanh nghiệp báo giá vàng miếng phổ biến ở mức 35,85 triệu đồng/lượng (mua vào) và quanh 35,95 triệu đồng/lượng (bán ra). So với sáng thứ Bảy, giá vàng tới thời điểm này đã đắt thêm 60.000-70.000 đồng mỗi lượng, tùy thương hiệu.

Tại thị trường Hà Nội, Phú Quý lúc 9h15 thông báo giá vàng SJC thu mua ở mức 35,87 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 35,97 triệu đồng/lượng. Tại Tp.HCM, giá vàng SBJ do Sacombank-SBJ niêm yết cùng thời điểm là 35,92 triệu đồng/lượng và 35,94 triệu đồng/lượng.

Giao dịch vàng miếng sáng đầu tuần diễn ra chậm chạp. Nhiều doanh nghiệp đang co hẹp hơn mức chênh lệch giữa giá mua và bán vàng. Tại Sacombank-SBJ, giá thu mua vàng hiện chỉ thấp hơn giá bán ra 20.000 đồng/lượng.

Tuần trước, giá vàng trong nước giảm 700.000 đồng/lượng do giá USD tự do giảm mạnh và giá vàng quốc tế xuống dốc sau khi lập kỷ lục. Việc vàng trong nước tăng giá sáng nay được giới kinh doanh vàng lý giải phần nhiều là do giá USD tăng mạnh trở lại.

Lúc hơn 9h, giá USD tự do tại Hà Nội đã được nâng lên mức 21.100 đồng (mua vào) và 21.160 đồng (bán ra). So với sáng thứ Bảy tuần trước, giá USD đã tăng 70 đồng ở chiều thu mua và 80 đồng ở chiều bán ra. Trong tuần trước, USD giảm giá 170 đồng.

Giá vàng quốc tế sáng nay biến động yếu quanh ngưỡng giá đóng cửa phiên cuối tuần trước tại thị trường New York. Lúc 9h35 giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay giảm 0,4 USD/oz, đứng ở mức 1.386,4 USD/oz.

Mức giá này quy đổi theo giá USD tự do, cộng các loại chi phí vận chuyển, bảo hiểm, gia công… tương đương xấp xỉ 35,45 triệu đồng/lượng. Như vậy, giá vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới quy đổi khoảng 500.000 đồng/lượng.

Tuần trước, trái với dự báo của đa phần các nhà phân tích, vàng quốc tế đã giảm giá 2%. Đồng USD mạnh và hoạt động bán vàng chốt lời đã đẩy vàng giảm giá mạnh. Thông tin Trung Quốc tiếp tục tăng mức dự trữ bắt buộc vào hôm thứ Sáu, và có thể tăng lãi suất cơ bản trong tuần này, cũng gây áp lực mất giá cho vàng.

Khả năng Trung Quốc tăng lãi suất gia tăng sau khi thống kê công bố hôm thứ Bảy cho thấy, lạm phát ở nước này trong tháng 11 đã lên tới 5,1%, cao nhất trong 28 tháng.

Trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu tuần trước, quỹ tín thác đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust đã bán ra gần 4 tấn vàng, giảm lượng nắm giữ về 1.289,8 tấn.

Bên cạnh đó, một số thông tin tích cực về kinh tế Mỹ công bố hôm thứ Sáu tuần trước đang thúc đẩy giới đầu tư chuyển vốn sang những kênh đầu tư có độ rủi ro cao hơn, thay vì những tài sản an toàn như vàng. Niềm tin người tiêu dùng tại Mỹ đã tăng lên mức cao nhất trong 6 tháng ngay giữa mùa mua sắm cuối năm này, trong khi thâm hụt thương mại của nước này giảm mạnh hơn dự kiến.

Đồng USD tại Tokyo sáng nay vững giá trên mức 1,32 USD đổi 1 Euro, ít thay đổi so với thứ Sáu tuần trước.

Tuy nhiên, theo giới phân tích, hoạt động bán vàng chốt lời hiện nay không ảnh hưởng gì nhiều tới nhu cầu đầu tư vàng trong dài hạn vì bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều bất ổn. Kinh tế Mỹ còn phục hồi chậm chạp, trong khi cuộc khủng hoảng nợ tại châu Âu còn chưa được giải quyết. Bên cạnh đó, ngân hàng HSBC cho rằng, việc vàng giảm giá thúc đẩy lực mua vàng vật chất tại các thị trường mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ.

Trong cuộc điều tra hàng tuần về dự báo giá vàng do Bloomberg tiến hành, có 9/16 chuyên gia được hỏi dự báo giá vàng tăng tuần này, 4 người dự báo giá giảm, 3 người có quan điểm trung tính.

(Theo Vneconomy)

10/12/10

Các ngân hàng cam kết lãi suất huy động VND tối đa 14%/năm

picture

Cam kết sẽ "mạnh" hơn đồng thuận, theo đó có thể kỳ vọng lãi suất sẽ ổn định hơn trong thời gian tới.

Cam kết này vừa đạt được thông qua 12 ngân hàng tại địa bàn Hà Nội trong ngày hôm qua (9/12) và sẽ tiếp tục thống nhất với các địa bàn trên cả nước.

Nguồn tin của VnEconomy cho biết, hôm qua (9/12), qua Ngân hàng Nhà nước, 12 ngân hàng thương mại khu vực Hà Nội đã cùng có cam kết quan trọng về mức lãi suất huy động VND trong thời gian tới.

Cụ thể, các ngân hàng trên cam kết sẽ áp lãi suất huy động VND tối đa trên bảng niêm yết là 14%/năm; tổng lãi suất qua quy đổi các chương trình khuyến mại, cộng thưởng đi kèm tối đa là 15%/năm.

Việc có sự du di thêm 1% đó được giải thích là tạo điều kiện để các ngân hàng có thể linh hoạt chính sách huy động tùy theo sức khỏe của mình.

Việc thực hiện cam kết trên có sự chứng kiến của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) và giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Trường hợp có ngân hàng niêm yết hoặc thực hiện quá mức nói trên, nhà quản lý sẽ vào cuộc xử lý.

Nguồn tin có liên quan nói trên cho biết, việc đưa ra cam kết trên sẽ có giá trị rõ ràng hơn trong thực hiện bởi đồng thuận tối đa 12%/năm từ đầu tháng 11 giữa các hội viên VNBA vừa mong manh vừa không có chế tài cụ thể để giữ được sự thống nhất.

Mặt khác, mốc tối đa 14%/năm cũng đã được tính toán dựa trên cơ sở nhu cầu vốn, năng lực thanh khoản chung của hệ thống và đặc biệt là với tình hình lạm phát hiện nay.

“Năm nay nếu lạm phát có lên 11%, vẫn thấp hơn nhiều so với năm 2008. Vậy hà cớ gì lãi suất lại ngang ngửa với năm 2008? Đó là vô lý. Nhưng vừa qua, các chỉ số hoạt động của anh tốt mà vẫn đẩy lên 17%/năm, tạo dây chuyền những thành viên khác tăng theo là sao? Như thế tạo xáo trộn trên thị trường, nguy hiểm. Đó là chưa nói với lãi suất huy động bị đẩy lên như vậy, doanh nghiệp làm sao vay. Nếu nhiều doanh nghiệp phải vay cao thì tôi tin không xa, chỉ ngay quý 1/2011, nền kinh tế Việt Nam sẽ rất khó khăn”, nguồn tin trên bình luận.

Cũng theo nguồn này, điểm đến của việc thực hiện cam kết lãi suất nói trên sẽ triển khai tại Tp.HCM cuối tuần này.

(Theo Vneconomy)

2/12/10

Thêm ngân hàng nâng lãi suất lên gần 14%/năm

picture

Ở sản phẩm tiền gửi bậc thang VND, lãi suất mà KienLongBank áp dụng cao nhất là 13,95%/năm.

Thị trường tiếp tục đón thêm ngân hàng tăng lãi suất huy động VND, lên gần 14%/năm trên biểu niêm yết chính thức.

Hôm nay (2/12), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kiên Long (KienLongBank) thông báo biểu lãi suất huy động mới, trong đó có sản phẩm mức cao nhất lên tới gần 14%/năm.

Lãi suất tiền gửi thông thường của KienLongBank có mức cao nhất là 13,2%/năm, áp đồng loạt cho các kỳ hạn từ 1 tháng cho đến 60 tháng. Điểm đáng chú ý là tại các kỳ hạn cực ngắn, lãi suất cũng đã ở mức cao: 1 tuần là 12,2%/năm, 2 tuần là 12,6%/năm và 3 tuần lên tới 13%/năm.

Ở sản phẩm tiền gửi bậc thang VND, lãi suất mà KienLongBank áp dụng phổ biến trên 13,5%/năm, tùy theo lượng tiền gửi và kỳ hạn; trong đó cao nhất là mức 13,95%/năm ở kỳ hạn 3 tháng đối với các khoản tiền gửi từ 2 tỷ đồng trở lên.

Trước KienLongBank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á châu (ACB) cũng đã có chương trình huy động mới theo chính sách khuyến mại, mức lãi cao nhất người gửi tiền nhận được là 14%/năm.

Như vậy, đến thời điểm này nhiều thành viên đã vượt xa “trần” lãi suất tối đa 12%/năm theo đồng thuận mà Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) thông báo thực hiện hồi đầu tháng 11.

(Theo Vneconomy)

29/11/10

Duy trì lãi suất cơ bản VND ở mức 9%/năm

picture

Nhiều ngân hàng thương mại đã nâng lãi suất này lên trên 13%/năm, một số thành viên có từ 13,2% - 13,85%, cá biệt cao nhất lên tới 14,5%/năm trên biểu niêm yết chính thức.

Ngày 29/11, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm, áp dụng từ ngày 1/12 tới.

Như vậy, sau khi tăng từ 8%/năm lên 9%/năm, áp dụng từ ngày 5/11 vừa qua, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam tiếp tục được giữ nguyên. Lãi suất tái chiết khấu hiện vẫn ở mức 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn ở mức 9%/năm, sau lần điều chỉnh ngày 5/11.

Trên thị trường, lãi suất huy động VND từ ngày 5/11 đến nay có nhiều biến động. Nhiều ngân hàng thương mại đã nâng lãi suất này lên trên 13%/năm, một số thành viên có từ 13,2% - 13,85%, cá biệt cao nhất lên tới 14,5%/năm trên biểu niêm yết chính thức.

(Theo Vneconomy)